9 bước đơn giản để đánh giá các công ty bán lẻ Việt Nam (Phần 3)


Với những thông tin mà chúng tôi cung cấp, các nhà đầu tư phần nào có cái nhìn tổng quan

về ngành bán lẻ. Bài cuối cùng của seri sẽ tập trung vào P/E, dòng tiền tự do và tỉ suất sinh lời.

7. Tính toán và so sánh tỷ lệ P/E với tỷ lệ tăng trưởng thu nhập kỳ vọng

Nhiều nhà đầu tư bị thu hút bởi cổ phiếu bán lẻ: Họ đại diện cho những cái tên quen thuộc mà ai cũng nhận ra và những câu chuyện thành công ai cũng biết. Ai mà không thích mua cổ phiếu Thế Giới Di Động hay PNJ trong những ngày đầu tiên mới niêm yết. Than ôi, dù tồn tại những câu chuyện thành công, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể sống sót khi đối mặt với những khắc nghiệt của ngành bán lẻ. Và dù mô hình bán lẻ có thành công cỡ nào, các nhà đầu tư cũng chỉ có thể có lợi nhuận nếu mua được với mức giá phù hợp.

Mặc dù có nhiều cách để định giá cổ phiếu, nhiều nhà phân tích hay sử dụng chỉ số P/E trong 12 tháng. Tuy nhiên, mặt hạn chế của chỉ số này là không thể theo kịp sự thay đổi nhanh chóng của ngành bán lẻ. Một doanh nghiệp bán lẻ có thể bị thất thế nhanh chóng chỉ sau 1 năm. Việc đánh giá doanh nghiệp dựa trên kết quả của năm ngoái có thể không chính xác. Chưa kể lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị bóp méo hoặc thổi phồng do yếu tố mùa vụ, một mùa lễ lạc thành công chẳng hạn.

Chính vì những hạn chế của tỷ lệ P/E, khi các nhà phân tích đánh giá các nhà bán lẻ, họ thường so sánh P/E với tỷ lệ tăng trưởng thu nhập dự kiến ​​của công ty (PEG). Ví dụ một công ty được giao dịch ở mức P/E 20 và có tốc độ tăng trưởng 20% thì PEG của công ty này sẽ bằng 1. Trong khi một công ty khác có P/E bằng 10 nhưng tỷ lệ tăng trưởng chỉ bằng 5% thì PEG sẽ bằng 2. Công ty có PEG thấp hơn sẽ được xem là rẻ hơn và ngược lại.