Các yếu tố định giá công ty thượng nguồn

Bài trước chúng ta tìm hiểu về ngành dầu khí và những phân khúc của ngành. Tại đây chúng ta sẽ biết thêm về cách định giá và các công ty thượng nguồn.

Tài sản chính của các công ty E&P là trữ lượng dầu và khí đốt của họ. Trữ lượng có thể được phân thành hai loại chính: trữ lượng đã được xác minh và chưa được xác minh. Trữ lượng đã được xác minh là số lượng (khối lượng) dầu hoặc khí tự nhiên có thể thu hồi được trong những năm tới từ các bể chứa đã biết, trong các điều kiện kinh tế và hoạt động hiện có. Trữ lượng chưa được xác minh có 2 loại.

Trữ lượng tiềm năng (được gọi là trữ lượng 2P khi tổng hợp với trữ lượng đã được xác minh) có 50% xác suất lượng dự trữ sẽ cao hơn ước tính và 50% xác suất lượng dự trữ sẽ thấp hơn ước tính, theo định nghĩa kỹ thuật của Viện Dầu khí Mỹ. Trong khi đó, trữ lượng có thể có (được gọi là trữ lượng 3P khi tổng hợp với trữ lượng đã được chứng minh và trữ lượng khả năng) có 10% xác suất lượng dự trữ cao hơn ước tính và 90% xác suất lượng dự trữ sẽ thấp hơn ước tính.

Báo cáo trữ lượng và Định giá trữ lượng: Giá trị của một công ty E&P có thể được ước tính bằng cách tính toán giá trị hợp lý của trữ lượng công ty sở hữu, sau đó tổng hợp giá trị này với giá trị của các tài sản ròng khác trên bảng cân đối kế toán của công ty, giả sử những tài sản ròng đó được ấn định theo giá trị thị trường.

Báo cáo trữ lượng, thường được tạo ra độc lập bởi các kỹ sư dầu khí, được sử dụng cho mục đích định giá. Các báo cáo này cung cấp tổng khối lượng khai thác dự kiến ​​từ các giếng, tính tổng khối lượng đó vào lợi ích sở hữu của công ty và ước tính giá cả, chi phí hoạt động và chi phí vốn trong tương lai. Về cơ bản, báo cáo trữ lượng là một mô hình chiết khấu dòng tiền (“DCF”) về trữ lượng của công ty, trên cơ sở trước thuế thu nhập và thường bao gồm giá trị hiện tại của thu nhập dự kiến ​​dựa trên nhiều tiêu chuẩn khác nhau.

Dưới đây là danh sách các mục chính khi xem xét báo cáo trữ lượng và các giả định cơ bản: